giáo dục phần lan

Ở Phần Lan, giảng dạy là một lĩnh vực chuyên nghiệp và rất được tôn trọng. Hầu hết các giáo viên có bằng thạc sĩ. 80% giáo viên giáo dục cơ bản thường tham gia các hoạt động phát triển chuyên môn. Mức độ học tập và phát triển liên tục này đảm bảo các nhà giáo dục của Phần Lan say mê với khoa học giảng dạy. Các trường học cung cấp "giáo dục Phần Lan" mọc lên khắp các thành phố của Ấn Độ, nhấn mạnh vào học tập dựa trên hoạt động, tương tác với thiên nhiên và kỹ năng sống hơn là giáo dục dựa trên sách giáo khoa. Trường The Academy (TAS) ở thành phố Pune đã áp dụng chương trình giảng dạy của Phần Lan vào năm ngoái. Từ nhiều năm nay, giáo dục Phần Lan liên tục dẫn đầu thế giới với chất lượng nổi bật và phương pháp sư phạm đặc biệt. Một trong những điều khiến nền giáo dục này thành công, đó chính là "học ít chơi nhiều", hay nói cách khác, tạo điều kiện tối đa cho trẻ Phần Lan là một quốc gia sáng tạo khi xét về nền giáo dục. Phần Lan liên tục là một trong những nước phát triển đạt kết quả tốt nhất theo Chương trình Đánh giá sinh viên quốc tế (PISA), một công cụ quan trọng để đánh giá các hệ thống giáo dục trên toàn cầu. Luật Giáo dục 2019, số 43/2019/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2019, theo đó tốt nghiệp 2 năm không làm đúng ngành cử nhân sư phạm phải hoàn trả học phí, luật giáo dục hiện hành 2020 bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục. Thành phần hội đồng trường đối film mujhse dosti karoge full movie bahasa indonesia. Gần đây các chuyên gia giáo dục hàng đầu của thế giới đều ấn tượng mạnh bởi nền giáo dục Phần Lan. Học sinh Phần Lan luôn đứng đầu về khoa học và khả năng đọc viết, và thường dẫn đầu cuộc thi quốc tế PISA Chương trình đánh giá học sinh quốc tế – Programme for International Student Assessment. Điều kỳ lạ là Phần Lan không hề xem trọng các kỳ thi sát hạch, kể cả PISA, và cũng không có một chương trình hay trường lớp nào dạy học sinh thi PISA cả. Thậm chí chính những người Phần Lan cũng ngạc nhiên về việc học sinh của nước họ luôn đứng đầu trong các cuộc thi PISA, vì họ cũng không quan tâm đến xếp hạng hay đặt mục tiêu phải đạt thành tích gì từ cuộc thi này. Năng lực học tập của học sinh Phần Lan đã thu hút các chuyên gia giáo dục từ 65 quốc gia, kể cả nền giáo dục hàng đầu thế giới như Mỹ đến tìm hiểu khám phá nền giáo dục đất nước này, và phát hiện ra nhiều điểm thú vị đáng học hỏi. Năm 2011, các Giáo sư nghiên cứu và giáo dục trường Harvard của Mỹ đã cùng nhà làm phim nổi tiếng Robert Compton đã làm bộ phim The Finland Phenomenon Inside The World’s Most Surprising School System’ nghĩa là Hiện tượng Phần Lan Bên trong hệ thống trường học đáng ngạc nhiên nhất trên thế giới để tìm hiểu về nền giáo dục kinh ngạc của đất nước này. Trở về với thực trạng giáo dục của Việt Nam, một nền giáo dục mà nhiều người thừa nhận là đã tụt hậu hàng thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ so với giáo dục thế giới. Chúng ta hãy thử làm một so sánh giữa giáo dục Phần Lan và Việt Nam, để xem giáo dục Việt Nam cần thay đổi hướng phát triển như thế nào để tốt hơn. GIÁO DỤC PHẦN LAN PL và GIÁO DỤC VIỆT NAM VN + PL Luật pháp Phần Lan quy định không được xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các học sinh trước lớp 6 -VN Các lớp đều có kỳ thi cho điểm đánh giá + PL Phương châm của giáo dục Phần Lan là muốn nhà trường thành thiên đường của trẻ em Tại -VN Việt Nam, nhà trường là môi trường cạnh tranh và nhồi nhét kiến thức + PL Nền giáo dục công bằng, học sinh thành thị hay nông thôn đều cùng được hưởng giáo dục như nhau -VN Có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa trường chuyên lớp chọn. + PL Ngành giáo dục không đánh giá xếp hạng các trường. Không có điểm danh, không có trường chuyên lớp chọn. Giáo viên tự hào về ngôi trường mình đang giảng dạy, phụ huynh và học sinh tin tưởng ngôi trường vào giáo viên của mình. -VN Có trường chuyên lớp chọn khiến phụ huynh, học sinh có sự phân biệt và thiếu tin tưởng nếu con em mình không được học tại một trường điểm hoặc lớp điểm. Hệ quả là việc chạy trường dẫn đến tiêu cực trong giáo dục. + PL Giáo dục hoàn toàn miễn phí. -VN Học sinh phải đóng học phí. + PL Giáo viên từ bậc tiểu học tối thiểu phải có bằng thạc sỹ, được hưởng lương cao và được xã hội xem trọng. Tính chọn lọc giáo viên rất cao chưa tới 10% số người đăng ký được chọn -VN Chỉ có giáo viên bậc ĐH mới cần bằng thạc sỹ, thu nhập thấp. + PL Không có khái niệm học thêm . -VN Trước đây việc học thêm dẫn đến tệ nạn học thêm thì điểm cao, không học thêm thì không được điểm cao. Ngày nay đã cấm học thêm, nhưng do thu nhập giáo viên thấp nên vẫn phải dạy chui’. + PL Giáo viên soạn bài giảng phù hợp từng độ tuổi . -VN Bài giảng không phù hợp với từng độ tuổi, có những bài toán không hợp lý, người lớn cũng không giải được. + PL Giáo viên tự chọn đầu SGK, và chủ động soạn bài giảng, được phép áp dụng phương pháp giảng dạy riêng . -VN Không có sự chủ động, giáo án soạn theo SGK. + PL Giáo viên được tuyển chọn khắt khe từ đầu vào, xã hội tôn trọng giáo viên, vì thế ngành giáo dục cũng không cần kiểm tra phân loại, hay giám sát giáo viên. -VN Định kỳ kiểm tra phân loại giáo viên khiến phụ huynh không muốn con em mình học giáo viên yếu, học giáo viên yếu thì phụ huynh và học sinh không có niềm tin. + PL Mỗi giáo viên thường theo một lớp trong thời gian dài để giáo viên và học sinh thực sự gắn bó và hiểu nhau. Thầy cô cũng có thể biết điểm yếu, khó khăn riêng của từng học sinh để bù đắp kiến thức . -VN Không chú trọng vấn đề này, vì thế nên giáo viên không biết hết được điểm mạnh hay yếu của học sinh để phát huy hay bù đắp kiến thức. + PL Học sinh bắt đầu học tiểu học từ 7 tuổi . -VN Lớp 1 bắt đầu từ lúc 6 tuổi. Nhưng để cho con em có thể theo kịp với bạn bè và chương trình, phụ huynh đã phải cho con em mình đi học chữ từ trước khi vào lớp 1. + PL Học sinh trung học mỗi tối mất chưa tới 30 phút làm bài tập ở nhà. -VN Học sinh Việt Nam mất khá nhiều thời gian để làm bài tập và học thuộc lòng, thông thường mất cả buổi tối để làm bài tập ở nhà. + PL Tập trung cho học sinh yếu chứ không phải học sinh giỏi, học sinh giỏi cũng lo cho học sinh yếu, giúp chất lượng chung cả nền giáo dục cao, ươm trồng tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau, vì thế mà học sinh thành những công dân có tính cộng đồng, sẵn lòng đỡ người khác, giúp văn hóa đạo đức của cả đất nước nâng cao. -VN Phân biệt học sinh giỏi yếu, học sinh yếu cảm thấy chán học, tự ti, bị nhồi nhét tư tưởng cạnh tranh từ nhỏ nên có khả năng sẽ thành công dân ít có tính cộng đồng. + PL Học sinh Phổ thông không có thi cử, chỉ có 1 kỳ thi duy nhất là thi vào ĐH. Mục đích của giáo dục là để truyền tải kiến thức chứ không phải dạy để thi cử, vì thế học sinh được tự do tìm tòi khám phá môn học mình yêu thích, không bị áp lực thi cử. -VN Chịu áp lực mạnh từ thi cử, học sinh học chủ yếu để thi tốt, điểm cao, chạy theo thành tích, không kích thích để phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, chương trình học thuộc lòng quá nặng khiến các em cũng không có thời gian để đầu tư phát triển khả năng sáng tạo. + PL Không nhất thiết chỉ học trong SGK, kiến thức ở ngay trong cuộc sống, học sinh có nhiều giờ học vui chơi ngoại khóa, lúc này giáo viên và học sinh tha hồ sáng tạo mà không theo giáo trình nào, học sinh thích thú tìm tòi khám phá, thu được nhiều kiến thức, giáo viên cũng nắm được điểm mạnh cần phát huy của học sinh. Giáo viên muốn học sinh tự tìm thông tin hơn là học trong SGK . -VN Kiến thức chỉ đơn điệu ở trong SGK. + PL Không khí học tập thích thú thoải mái không có áp lực, học sinh học vì thích thú nên hoàn toàn không cần điểm danh . -VN Nhiều học sinh không thích đi học nên điểm danh là việc nhà trường cảm thấy cần thiết. Một quốc gia không đặt ra các tiêu chí để đánh giá xếp hạng giáo viên và học sinh, không yêu cầu thầy trò phải đứng đầu, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên. So sánh giữa một nền giáo dục hàng đầu thế giới và một nền giáo dục tụt hậu như Việt Nam có thể thấy khác biệt là quá xa. Nhưng đấy cũng là một cách tốt để các nhà hoạch định chính sách Giáo dục đưa ra một hướng đi đúng đắn cho giáo dục Việt Nam./. NguồnNgọn Hải Đăng/ĐKN Để xây dựng được một nền giáo dục tiên tiến và thành công như hiện tại, Phần Lan đã phải đầu tư nghiên cứu suốt nhiều năm liền để thiết kế nên một hệ thống giáo dục toàn diện và gắn kết chặt chẽ với nhau. Hệ thống giáo dục này chính là nền tảng cơ bản để tạo nên sự thành công bậc nhất của nền giáo dục Phần Lan. Hệ thống giáo dục Phần Lan Hệ thống giáo dục Phần Lan được chia thành nhiều cấp bậc dựa trên độ tuổi của học viên cũng như nhu cầu và mục đích mà chương trình giáo dục hướng tới. Hệ thống này được chia thành các nhóm gồm Giáo dục Trẻ em, Giáo dục cơ bản, Giáo dục Phổ thông, Giáo dục Đại học và cuối cùng là Giáo dục người lớn. Giáo dục Trẻ em Dựa trên một nghiên cứu của Tiến sĩ Maria Montessori - người đã có rất nhiều thành tựu trong việc giáo dục trẻ em, sáu năm đầu đời của trẻ em là giai đoạn chúng phát triển nhanh và nổi bật nhất. Giai đoạn này là giai đoạn trẻ không chỉ tiếp thu kiến thức cá nhân mà còn là giai đoạn hình thành nhân cách và các kỹ năng cần thiết cho trẻ. Vì lý do này, Phần Lan cũng rất coi trọng việc Giáo dục Trẻ em tại nước mình. Giáo dục Trẻ em trong hệ thống giáo dục tại Phần Lan được chia thành hai nhóm Giáo dục, Chăm sóc Trẻ từ sớm và Giáo dục Mầm non. + Giáo dục, Chăm sóc trẻ từ sớm Ở Phần Lan, trẻ em được giáo dục mầm non trước khi đến tuổi đi học. Giáo dục, Chăm sóc Trẻ từ sớm được tổ chức tại các trung tâm chăm sóc trẻ ban ngày và nhà trẻ gia đình. Trẻ em cũng có thể tham gia vào chương trình giáo dục sớm cùng với cha mẹ trong sân chơi. Trẻ em có thể nhận được ít nhất 20 giờ giáo dục mầm non mỗi tuần, hoặc nhiều hơn nếu cha mẹ đang làm việc hoặc học tập. Mục đích là để hỗ trợ sự phát triển và hạnh phúc của trẻ em. Trẻ em được giáo dục với tiêu chí đặc biệt Để trẻ em là trẻ em! + Giáo dục Mầm non Nếu Giáo dục, Chăm sóc trẻ từ sớm là hoàn toàn dựa trên yếu tố tự nguyện thì Giáo dục Mầm non ở Phần Lan là bắt buộc. Giáo dục Mầm non trong hệ thống giáo dục ở Phần Lan áp dụng cho trẻ em 6 tuổi, và chương trình này chỉ kéo dài 1 năm. Trong năm này, trẻ sẽ được học chữ cái, nhưng không học đọc, chủ yếu vẫn là những hoạt động ngoài trời. Giáo dục Cơ bản Giáo dục Cơ bản ở Phần Lan hay còn được biết đến là Giáo dục Tiểu học được xây dựng với mục tiêu là hỗ trợ học sinh phát triển theo hướng nhân văn và cung cấp kiến ​​thức và kỹ năng cần thiết trong cuộc sống. Theo quy định trong hệ thống giáo dục Phần Lan, thời gian Giáo dục Cơ bản bắt buộc là 9 năm, bắt đầu từ khi trẻ được 7 tuổi và kết thúc khi chúng 15 tuổi. Giáo dục cơ bản cho trẻ em từ 7 đến 15 tuổi Giáo dục Phổ thông Sau khi hoàn thành chương trình Giáo dục Cơ bản của mình, học sinh có quyền chọn lựa giữa Giáo dục Trung học Phổ thông hoặc Giáo dục Nghề nghiệp. Hai hình thức giáo dục này đều được nhìn nhận chung là Giáo dục Phổ thông trong hệ thống giáo dục của Phần Lan và đều hướng đến việc hỗ trợ học sinh tham gia Kỳ thi tuyển sinh quốc gia và nâng cao trình độ nghề lên sơ cấp nghề, tuy nhiên hai hình thức này vẫn có những điểm khác biệt riêng. + Giáo dục Trung học Phổ thông Giáo dục Trung học phổ thông cung cấp cho học sinh kiến ​​thức tổng quát sâu rộng để chuẩn bị cho các nghiên cứu sâu hơn. Các nghiên cứu thường kéo dài trong ba năm và khi hoàn thành, học sinh sẽ tham gia Kỳ thi tuyển quốc gia Phần Lan. Giáo dục Trung học Phổ thông thực hiện theo Đề cương Giáo dục Trung học Phổ thông của Phần Lan. Phần Lan chú trọng xây dựng môi trường lớp học sáng tạo, thoải mái cho học sinh phổ thông + Giáo dục Nghề nghiệp Mục đích của Giáo dục Nghề nghiệp là tăng cường và duy trì kỹ năng nghề của người dân, phát triển thương mại và công nghiệp và đáp ứng nhu cầu năng lực của họ. Chương trình giáo dục này cũng kéo dài trong 3 năm. Ở Phần Lan, khoảng một nửa số học sinh hoàn thành chọn Giáo dục Nghề nghiệp thay vì Giáo dục Trung học Phổ thông sau khi đã hoàn tất Giáo dục Cơ bản. Giáo dục Nghề nghiệp cũng tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học lên cao hơn. Giáo dục Đại học Hệ thống Giáo dục Đại học của Phần Lan bao gồm 13 trường Đại học tiếng Phần Lan Yliopisto và 23 trường Đại học Khoa học ứng dụng tiếng Phần Lan Ammattikorkeakoulu. + Các trường Đại học Các trường đại học giáo dục về những nghiên cứu khoa học và tập trung vào những nghiên cứu khoa học đó. Các trường đại học cung cấp các chương trình cấp cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ PhD.Các trường đại học thúc đẩy học tập suốt đời, tương tác với xã hội và thúc đẩy sự ảnh hưởng của các nghiên cứu khoa học và hoạt động nghệ thuật đối với xã hội. Các trường đại học trong hệ thống giáo dục của Phần Lan hoạt động dựa trên nguyên tắc tự chủ. Trường đại học là những pháp nhân độc lập và có quyền quyết định độc lập về những vấn đề liên quan đến quản trị nội bộ của trường. Trường Đại học tại Phần Lan + Các trường Đại học Khoa học ứng dụng Mặt khác, các trường Đại học Khoa học ứng dụng thuộc nhóm Giáo dục Đại học cung cấp một nền giáo dục thực dụng đáp ứng nhu cầu cuộc sống lao động. Các trường đại học khoa học ứng dụng nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực đời sống như kinh doanh, công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là ở cấp khu vực. Họ đào tạo các chuyên gia để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Giống như các trường Đại học chuyên về nghiên cứu, các Trường Đại học Khoa học ứng dụng cũng được chia thành các cấp độ Cử nhân và Thạc sĩ. Sinh viên thường phải hoàn thành yêu cầu kinh nghiệm làm việc ba năm trước khi có thể đăng ký vào chương trình cấp bằng Thạc sĩ của các trường Đại học Khoa học ứng dụng. Sinh viên có bằng Cử nhân của các trường Đại học Khoa học ứng dụng cũng có thể đăng ký chương trình Thạc sĩ tại trường Đại học chuyên về nghiên cứu, tuy nhiên thường các sinh viên này sẽ phải học thêm các khóa học bổ sung. Giáo dục Người lớn Một lớp học thuộc chương trình Giáo dục Người lớn Các cơ sở giáo dục phục vụ cho Giáo dục Người lớn trong hệ thống giáo dục Phần Lan cung cấp chương trình giáo dục tự do cho tất cả những người trưởng thành đã hoặc chưa hoàn tất chương trình giáo dục của mình, hoặc bất kỳ công dân nào của Phần Lan đang làm việc tại đây và có mong muốn được học. Các cơ sở giáo dục Người lớn cung cấp các nghiên cứu nâng cao kỹ năng công dân, nghiên cứu xã hội, nghiên cứu giáo dục phổ thông và nghiên cứu để thu nhận thông tin và kỹ năng dựa trên sở thích hoặc sở thích. Mục tiêu của hình thức giáo dục này là thúc đẩy sự phát triển đa năng và phúc lợi của con người cũng như việc thực hiện dân chủ, đa nguyên, phát triển bền vững, đa văn hóa và chủ nghĩa quốc tế. Giáo dục Người lớn nhấn mạnh vào việc học tập tự động viên, ý thức cộng đồng và hòa nhập. Các cơ sở Giáo dục Người lớn bao gồm trung tâm giáo dục người lớn, trường trung học truyền thống, trung tâm học tập, trung tâm huấn luyện thể thao viện thể thao và các trường đại học mùa hè. Hệ thống giáo dục của Phần Lan, đặc biệt là đối với cấp độ từ Giáo dục Mầm non đến Giáo dục Đại học, đều là những phúc lợi mà mọi công dân Phần Lan được hưởng. Từng nhóm trong hệ thống giáo dục này đều có những mục tiêu riêng cho từng cá nhân học sinh, nhưng mục đích chung của các nhóm trong hệ thống giáo dục của Phần Lan là để tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng để nhận được nền giáo dục chất lượng cao, bất kể tuổi tác hay thu nhập, tạo điều kiện để mỗi cá nhân đều trở thành những công dân năng động. Nhờ có hệ thống giáo dục này mà Phần Lan cũng sở hữu cho mình một xã hội bình đẳng, phát triển và thịnh vượng Tags giáo dục Phần Lan, sơ đồ hệ thống giáo dục Phần Lan, giáo dục Đại học Phần Lan, Giáo dục Nghề nghiệp tại Phần Lan, trường Đại học tại Phần Lan, trẻ em ở Phần Lan, giáo dục miễn phí, học nghề tại Phần Lan TIN LIÊN QUAN 08 THÁNG 01 Học tiếng Phần Lan có khó không?Hiện nay, du học Phần Lan không còn đòi hỏi quá nhiều về mặt ngôn ngữ. Du học Phần Lan bạn vẫn có thể sử dụng tiếng... TIN NỔI BẬT →Học cách giáo dục của người Sing →Khoảng cách giàu nghèo "1 ngày và 10 năm" Nhiều người đã quen thuộc với khuôn mẫu của sự ghi nhớ, kiểu học thuộc lòng và cách làm việc chăm chỉ của các quốc gia Đông Á. Nhiều quốc gia trong số này, như Trung Quốc, Singapore và Nhật Bản thường xếp hạng ở vị trí số một trong cả toán và khoa học. Một số chuyên gia hướng tới mô hình này như một điều mà người Mỹ mong muốn trở thành. Làm việc nhiều hơn! Học tập chăm chỉ hơn! Sống ít hơn. Thực tế và số liệu không nói dối, những quốc gia này hoạt động tốt hơn Mỹ nhưng vẫn có thể có cách tốt hơn và lành mạnh hơn để giải quyết vấn đề này. Phần Lan là câu trả lời, một đất nước phong phú về cải cách trí tuệ và giáo dục trong nhiều năm qua đã khởi xướng một số thay đổi mới lạ và đơn giản giúp họ hoàn toàn cách mạng hóa hệ thống giáo dục. Họ vượt trội hơn Hoa Kỳ và đang bắt kịp các quốc gia Đông Á. Nhưng cách họ làm như thế nào?. Dưới đây là 5 lý do tại sao hệ thống giáo dục của Phần Lan vượt trội so với Mỹ và thế giới. 1. Phần Lan không có các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa Thông thường, các bài kiểm tra, dù là trắc nghiệm hay tự luận, là cách thức chúng ta đánh giá mức độ hiểu biết của người kiểm tra về một môn học hoặc chủ đề nào đó. Cách làm này kéo theo việc học sinh sẽ học cách nhồi nhét để vượt qua bài kiểm tra và giáo viên sẽ giảng dạy với mục đích duy nhất là học sinh đậu kỳ thi. Trong mối tương quan này, việc học tập đã bị ném ra ngoài. Phần Lan không có các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa. Ngoại lệ duy nhất của họ là một kỳ thi được gọi là kỳ thi thi tuyển quốc gia. Đây là một kỳ thi tự nguyện cho học sinh vào cuối năm học phổ thông. Tất cả trẻ em trên khắp Phần Lan được phân loại trên cơ sở cá nhân và hệ thống chấm điểm bởi giáo viên của họ. Việc theo dõi tổng thể được thực hiện bởi Bộ Giáo dục bằng cách lấy mẫu các nhóm trên các phạm vi khác nhau của các trường. 2. Tiêu chuẩn đặt ra cho các giáo viên rất cao Có rất nhiều than phiền về các giáo viên và đôi khi chúng đúng. Nhưng ở Phần Lan, tiêu chuẩn đặt ra cho các giáo viên rất cao. Và thường thì không có lý do để có một hệ thống “phân loại” nghiêm ngặt cho giáo viên. Pasi Sahlberg, Giám đốc của Bộ Giáo dục Phần Lan, kiêm tác giả cuốn sách “Bài học Phần Lan Thế giới có thể học hỏi gì từ sự thay đổi giáo dục ở Phần Lan?” từng nói “Không có từ giải trình ở Phần Lan… Giải trình là điều còn lại sau khi đã trừ đi trách nhiệm.” Tại Phần Lan, tất cả giáo viên được yêu cầu phải có bằng thạc sĩ trước khi vào nghề. Chương trình đào tạo là những trường chuyên nghiệp nghiêm ngặt và có chọn lọc nhất trong cả nước. Nếu giáo viên không làm việc tốt thì đó là trách nhiệm của riêng hiệu trưởng phải làm điều gì đó để điều chỉnh. Mối quan hệ động giữa thầy và trò trong giáo dục, trong đó vốn dĩ người giáo viên phải đạt đến trình độ thạc sĩ để hành nghề, không thể đơn giản hóa thành những bài kiểm tra tĩnh được tiêu chuẩn hóa. Việc giáo dục cần phải được thực hiện trên cơ sở cá nhân. 4. Đoàn kết, hợp tác, không cạnh tranh Trong khi hầu hết người Mỹ và các nước khác nhìn hệ thống giáo dục là một trong những cuộc thi lớn theo chủ thuyết Darwin thì người Phần Lan nhìn khác đi. Sahlberg trích dẫn một dòng từ một nhà văn tên Samuli Paronen “Người chiến thắng thực sự không cạnh tranh.” Trớ trêu thay, chính thái độ không tranh lại đặt Phần Lan lên tốp đầu thế giới. Trong hệ thống giáo dục của Phần Lan không có danh sách các trường điểm hoặc giáo viên giỏi. Nơi đó không phải là môi trường cạnh tranh, thay vào đó, sự hợp tác là tiêu chuẩn. Hệ thống giáo dục Phần Lan có 9 năm học bắt buộc. Sau 9 năm này, hoặc khi học sinh 16 tuổi, việc học tập như thế nào là quyền tùy chọn của mỗi học sinh. 4. Chỉ cần điều cơ bản Nhiều hệ thống trường học rất quan tâm đến việc tăng điểm kiểm tra và hiểu biết về môn toán và khoa học. Họ có xu hướng quên đi những gì tạo thành một môi trường học tập và sinh ra những học sinh hạnh phúc, hài hòa, khỏe mạnh. Nhiều năm trước, hệ thống trường học của Phần Lan cần một số cải cách nghiêm túc. Quốc gia này tập trung vào việc quay lại những điều cơ bản. Họ tìm cách làm cho môi trường học đường trở thành một nơi công bằng hơn. 5. Đi học trễ hơn Ở đây người Phần Lan lại tiếp tục thay đổi với các chi tiết rất nhỏ. Học sinh bắt đầu đi học khi chúng được bảy tuổi. Đây là cách giúp trẻ tự do phát triển trong những năm thơ ấu, không bị ràng buộc vào giáo dục bắt buộc. Điều này giúp trẻ em thật sự là trẻ em và tuổi thơ được giữ lại. Hệ thống giáo dục Phần Lan có 9 năm học bắt buộc. Sau 9 năm này, hoặc khi học sinh 16 tuổi, việc học tập như thế nào là quyền tùy chọn của mỗi học sinh. Chỉ cần nhìn từ một quan điểm tâm lý, đây là một lý tưởng giải phóng. Tuy vậy cũng có giai thoại cho rằng nhiều học sinh thực sự cảm thấy như họ đang bị mắc kẹt trong một nhà tù. Phần Lan làm giảm bớt lý tưởng cưỡng bức này và thay vào đó là lựa chọn để chuẩn bị cho con cái của họ cho thế giới thực. Nguồn Weforum Cập nhật tin Đầu Tư, Bất Động Sản, tin nhanh kinh tế chứng khoán, kiến thức Doanh Nghiệp tại Fanpage. Năm 2020 là năm thứ 3 liên tiếp, Phần Lan - đất nước Bắc Âu nhỏ bé với vẻn vẹn 5,5 triệu dân, được bình chọn là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo bản tổng kết Hạnh phúc Thế giới của Liên Hiệp Quốc được công bố vào ngày 20/3. Đứng sau Phần Lan là Đan Mạch, kế tiếp là Thuỵ Sỹ, Ai Xơ Len và Na Uy. Thủ đô Helsinki của Phần Lan cũng được xướng danh là thành phố hạnh phúc nhất thế giới, kế tiếp là Aarhus Đan Mạch, Wellington New Zealand, Zurich Thuỵ Sỹ, Copenhagen Đan Mạch. Một năm có 200 ngày mùa đông u ám, 2 tháng trời không có một tia nắng, nhiệt độ mùa đông có thể rớt xuống -20°C. Vậy điều gì giúp Phần Lan trở thành mảnh đất hạnh phúc nhất thế giới? Đó chính là GIÁO DỤC. Vào đầu những năm 1970, Phần Lan có một hệ thống giáo dục bị xuống cấp trầm trọng và một nền kinh tế lâm nghiệp dựa vào một sản phẩm duy nhất – gỗ, và họ cứ thế chặt cây xuống với một tốc độ chóng mặt. Lúc đó họ nhận ra rằng chặt gỗ chẳng thể đưa họ đi tới đâu nên họ đã quyết định thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục của mình nhằm tạo ra một nền kinh tế tri thức thực sự. Vậy là bắt đầu từ những năm 1970, người Phần Lan đã tiến hành đổi mới việc tuyển chọn và đào tạo những giáo viên tương lai của họ. Đây là một bước căn bản trong quá trình cải cách giáo dục bởi vì nó đã cho phép họ có được mức độ chuyên nghiệp cao hơn giữa các giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải có bằng Thạc sĩ và tất cả phải được đào tạo trong cùng một chương trình đào tạo chất lượng cao. Và cũng kể từ đó, dạy học trở thành một nghề được tôn trọng nhất trong xã hội – không được trả lương cao nhất nhưng cao quý nhất. Kết quả là trong các bài đánh giá học sinh quốc tế, PISA, Phần Lan đã liên tục xếp trên tất cả các nước phương Tây và thực sự chỉ có một vài nước phương Đông với phương pháp học nhồi nhét có kết quả tương tự. Bởi vậy, Giáo dục Phần Lan luôn được đánh giá là một trong những nền giáo dục ưu việt hàng đầu thế giới, đã được nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Brazil…lựa chọn nhập khẩu và áp dụng. Hệ thống Giáo dục Tân Thời Đại là đơn vị đầu tiên chính thức đưa Giáo dục Phần Lan về Hà Nội và áp dụng thành công trên chương trình Mầm non và Tiểu học. Tân Thời Đại mong muốn lan tỏa những giá trị tốt đẹp của nền giáo dục hạnh phúc không chỉ tới các thế hệ học sinh Việt Nam mà còn tới số đông các phụ huynh để mỗi người trong chúng ta đều trở thành những CHA MẸ HẠNH PHÚC. Hãy cùng chúng tôi khám phá chìa khóa mở ra cánh cửa hạnh phúc mang tên GIÁO DỤC PHẦN LAN qua video sau nhé. Phần Lan là một quốc gia có những nghịch lý kỳ lạ ở nhiều khía cạnh, trong đó có giáo dục. Là cái nôi của công nghiệp viễn thông và là một trong những nước có tỉ lệ sử dụng điện thoại di động cao nhất, Phần Lan cũng được biết đến với những người dân hướng nội, ít nói. Tránh “chuyện phiếm” là một đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Phần Lan. Các tầng lớp xã hội khác ở Phần Lan cũng yêu thích thứ chủ nghĩa tối giản này. Trong kinh doanh, chính trị và ngoại giao, người Phần Lan thích nói chuyện thẳng thắn và dựa trên thủ tục đơn giản. Họ muốn giải quyết vấn đề chứ không phải trình bày vấn đề. Những phát minh và cải tiến sáng tạo ở Phần Lan thường cũng dựa trên những ý tưởng đơn giản nhưng làm nên một khác biệt lớn. Vậy có lẽ không có gì ngạc nhiên khi những nguyên tắc và giá trị này được cố kết vào giáo dục Phần Lan. Một trong những giá trị giáo dục của Phần Lan là đặt việc dạy và học lên cao hơn hết thảy những vấn đề khác khi cân nhắc các chính sách và cải cách giáo dục. Trên hết, người Phần Lan dường như không tin rằng làm đi làm lại một thứ trong giáo dục sẽ tạo ra bất cứ khác biệt đáng kể nào để cải nhà giáo dục Phần Lan không tin rằng giao nhiều bài tập về nhà hơn thì sẽ giúp học sinh học tốt hơn, nhất là nếu đó là những bài tập bình thường và không thách thức về mặt trí tuệ. Nguồn ít hơn, học nhiều hơnKinh nghiệm của Phần Lan thách thức logic thông thường trong tư duy cải cách giáo dục vốn vẫn thường tìm cách khắc phục thực trạng học hành chưa được như kỳ vọng của học sinh bằng cách tăng thời gian dạy học, thời lượng giảng dạy và khối lượng bài tập về nhà cho các em. Ví dụ, khi học sinh học môn toán chưa được đầy đủ, một giải pháp phổ biến sẽ là sửa đổi chương trình môn này để tăng thời lượng học trên lớp và lượng bài tập về nhà. Trong hầu hết các hệ thống giáo dục, điều này cũng đòi hỏi nhiều thời gian lên lớp đối với giáo viên thực tế, dường như có rất ít mối tương quan giữa số giờ dạy dự kiến trong giáo dục công lập với kết quả học tập của học sinh, theo đánh giá của PISA. Điều thú vị là, ở các quốc gia có kết quả cao, thời lượng dạy học chính thức không hẳn là động lực thúc đẩy việc học của học sinh ví dụ Phần Lan và Estonia, trong khi những quốc gia có thành tích học tập thấp hơn nhiều ví dụ Mỹ, Israel và Mexico lại yêu cầu thời lượng dạy học chính thức nhiều hơn đáng kể cho học sinh của họ. Nếu những khác biệt này được chuyển thành số năm học, thì học sinh Úc 15 tuổi chẳng hạn đã đi học nhiều hơn gần năm năm so với học sinh Phần Lan cùng tuổi. Hơn nữa, tại Phần Lan, trẻ em bắt đầu đi học tiểu học khi lên bảy tuổi, trong khi nhiều trẻ em Úc bắt đầu đi học từ lúc năm tuổi OECD, 2019a. Những thống kê này không cho biết bất kỳ điều gì về lượng thời gian học sinh dành cho việc phụ đạo riêng hay học thêm ngoài giờ học chính thức – thông lệ phổ biến ở hầu hết các hệ thống trường học có kết quả cao ở Đông Á. Nhìn chung, thời gian học sinh dành cho việc học trong và ngoài nhà trường tại Phần Lan ít hơn nhiều so với các quốc gia khác. Các trường học ở Phần Lan dường như làm theo ý tưởng của Sugata Mitra về “xâm lấn tối thiểu trong giáo dục”[1], với đề xuất rằng học sinh có thể tự học trong những môi trường không có giám sát và có thể học bằng cách giúp đỡ lẫn ngày học ở trường ở Phần Lan ngắn hơn ở nhiều nước khác, học sinh làm gì sau khi tan học? Về nguyên tắc, học sinh được tự do về nhà vào buổi chiều trừ khi được giao làm gì đó ở trường. Trường tiểu học được yêu cầu tổ chức các hoạt động sau giờ học cho các em học sinh nhỏ tuổi nhất và được khuyến khích thành lập câu lạc bộ giáo dục hoặc giải trí cho các em lớn tuổi hơn. Hai phần ba số trẻ em độ tuổi 10–14 và hơn một nửa số em trong độ tuổi 15-19 tham gia ít nhất một hiệp hội người trẻ hay hiệp hội thể cách khác để minh họa nghịch lý lượng-chất là phân tích xem giáo viên trên khắp các quốc gia sử dụng thời gian làm việc của họ như thế nào. Một lần nữa, sự khác biệt giữa các quốc gia là rất đáng kể. Theo OECD 2019d, ở các trường trung học cơ sở và tiểu học, trung bình hằng năm giáo viên Phần Lan dạy lần lượt khoảng 614 giờ và 677 giờ tức lần lượt là 830 và 900 tiết học kéo dài 45 phút. Con số này tương đương với khoảng bốn tiết một em Phần Lan được vui chơi nhiều hơn ở trong và ngoài nhà trường so với trẻ em ở các nước khác vì người Phần Lan tin rằng trẻ em chơi càng nhiều thì càng học được nhiều. Nguồn đây tôi sử dụng một nguồn dữ liệu khác đối với Mỹ, bởi vì dữ liệu OECD cho nước này đã được ghi nhận là phóng đại đáng kể. Dựa trên phân tích chi tiết của Sam Abrams, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Chi phí-Lợi ích của Giáo dục tại Đại học Columbia của Mỹ, tổng thời gian giảng dạy trung bình hằng năm ở các trường tiểu học và trung học cơ sở lần lượt là 865 giờ và 770 giờ, tương đương lần lượt với 5,5 và 4,9 tiết mỗi ngày hoặc các hình thức giảng dạy khác kéo dài 50 phút Abrams, 2015. Giáo viên Canada con số khác nhau giữa các tỉnh dạy xấp xỉ 800 giờ ở trường tiểu học và 750 giờ ở trường trung học cơ sở mỗi ngày điển hình ở trường trung học phổ thông Phần Lan khác với ở Mỹ như thế nào? Trước tiên, giáo viên Mỹ dành gần gấp đôi thời gian dạy và làm việc với học sinh mỗi tuần so với đồng nghiệp Phần Lan của họ. Dạy sáu tiếng hay bốn ca học mỗi ngày là một công việc nặng nhọc khiến nhiều giáo viên quá mệt mỏi, không thể tham gia vào bất cứ hoạt động gì mang tính chuyên nghiệp khi họ dạy xong. Công việc của giáo viên Mỹ do đó được định nghĩa chủ yếu là dạy bên trong và bên ngoài lớp học. Tại một trường trung học điển hình ở Phần Lan, trái lại, giáo viên dạy trung bình bốn tiếng một ngày. Tuy giáo viên được trả công theo số tiết dạy, song họ cũng có thời gian mỗi ngày để soạn bài, học tập, và kiểm điểm việc dạy của mình với các giáo viên viên ở các trường học Phần Lan có nhiều trách nhiệm khác bên cạnh việc dạy đánh giá thành tích và tiến bộ chung của học sinh mình dạy, soạn và liên tục phát triển chương trình giảng dạy của mình tại trường, tham gia một vài sáng kiến sức khỏe và phúc lợi trường học liên quan đến học sinh của mình, và bổ túc thêm cho những học sinh có thể cần giúp đỡ thêm. Nhiều trường học Phần Lan, nhờ vào định nghĩa độc đáo về công việc của giáo viên và bản chất của nhà trường, là những cộng đồng học tập chuyên nhà giáo dục Phần Lan không tin rằng cứ giao nhiều bài tập về nhà hơn thì kiểu gì cũng giúp học sinh học tốt hơn, nhất là nếu đó là những bài tập bình thường và không thách thức về mặt trí tuệ, mà thật không may bài tập trường giao về nhà thường là những dạng bài một số cuộc điều tra quốc gia và nghiên cứu quốc tế, học sinh tiểu học và trung học cơ sở Phần Lan có khối lượng bài tập về nhà ít nhất. Tờ Wall Street Journal cho biết học sinh Phần Lan hiếm khi phải làm hơn nửa tiếng đồng hồ bài tập về nhà mỗi ngày Gameran, 2008. Dữ liệu từ các cuộc khảo sát PISA gần đây cho thấy học sinh 15 tuổi tại Phần Lan dành ít hơn ba giờ mỗi tuần để làm bài tập về nhà OECD, 2019a.Đúng là nhiều học sinh tiểu học và trung học cơ sở có thể hoàn thành hầu hết các bài tập về nhà ngay tại trường, trước khi tan học. Theo OECD, học sinh Phần Lan 15 tuổi không học gia sư hoặc học thêm ngoài những gì được dạy trên trường OECD, 2019b. Nhìn từ góc độ này, thành tích cao của học sinh Phần Lan trong các bài kiểm tra quốc tế thật đáng kinh ngạc. Ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Thượng Hải, Trung Quốc, những nơi có kết quả bằng hoặc cao hơn Phần Lan trong môn đọc hiểu, toán học và khoa học, hầu hết học sinh dành hàng giờ sau giờ học ở trường và vào ngày nghỉ cuối tuần cũng như ngày nghỉ lễ trong các lớp học tư và các lò luyện thú vị là, bằng chứng từ những nghiên cứu gần đây nhất cho thấy học sinh Phần Lan ít bị lo lắng và căng thẳng thần kinh hơn so với học sinh các nước khác OECD, 2004, 2007. PISA kết luận rằng chỉ 7% số học sinh Phần Lan nói các em cảm thấy lo lắng khi làm bài tập toán ở nhà, so với 52% ở Nhật Bản và 53% ở Pháp Kupari & Välijärvi, 2005.Nghịch lý của Phần Lan cũng có thể là như này Kiểm tra ít hơn, Học nhiều hơn. Phần Lan nổi danh với văn hóa kiểm tra học sinh không áp lực, nơi đây không tồn tại các bài kiểm tra chuẩn dựa trên điều tra dân số trước khi học sinh trung học phổ thông tỏ ra sẵn sàng học cao hơn trong Kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia. Tuy học sinh tại Phần Lan không bị kiểm tra như học sinh ở nhiều nước khác phải thường xuyên làm các bài kiểm tra chuẩn, song điều này không có nghĩa là không có công cụ đánh giá học sinh ở Phần Lan hay không có bất kỳ dữ liệu nào về việc học của học sinh, mà hoàn toàn ngược lại. Giáo viên đánh giá học sinh vào mọi nguyên tắc, có thể chia đánh giá học sinh tại Phần Lan thành ba loại hình đánh giá trên lớp của giáo viên; đánh giá toàn diện tiến bộ của học sinh sau mỗi học kỳ; và các bài đánh giá quốc gia thường xuyên được Trung tâm Đánh giá Giáo dục Phần Lan FINEEC tiến hành, sử dụng phương pháp lấy mẫu khoảng 10% học sinh trong một nhóm tuổi, đo lường việc học tập của học sinh trong các môn đọc hiểu, toán, khoa học cũng như các môn học và chủ đề khác được xác định trong kế hoạch đánh giá quốc gia được chính phủ Phần Lan phê duyệt trong chu kỳ bốn năm. Các trường học không nằm trong những mẫu này có thể mua một hoặc nhiều bài kiểm tra từ FINEEC để đánh giá kết quả học tập của họ với kết quả của các trường càng nhiều, học càng nhiềuNhiều người biết rằng Phần Lan là nơi mọi người rất coi trọng việc chơi. Hầu hết các bậc cha mẹ đồng ý rằng việc chơi ngoài trời tự do trong thời thơ ấu sẽ có lợi cho đứa trẻ hơn bất kỳ điều gì. Hầu hết giáo viên đồng ý rằng việc dạy và học tại trường tiểu học nên được xây dựng dựa trên sự tham gia tích cực của trẻ trong các hoạt động vui chơi thay vì dạy các môn khác nhau theo những cách truyền thống hơn. Nhiều trường trung học cơ sở kết hợp việc học thông qua chơi trong danh sách các phương pháp giảng dạy để thu hút học sinh hơn trong việc thử nghiệm, tìm tòi và khám phá trong chương trình dạy một số lý do vì sao câu ngạn ngữ “chơi càng nhiều, học càng nhiều” vô cùng phù hợp với văn hóa giáo dục Phần Lan. Đầu tiên, trẻ em tại Phần Lan bắt đầu đi học chính thức muộn hơn bạn bè đồng lứa ở hầu hết các quốc gia, lúc lên bảy tuổi. Các bậc cha mẹ và nhà giáo dục Phần Lan đánh giá cao việc kéo dài tuổi thơ này, cho phép trẻ em được chơi nhiều hơn và lớn lên theo nhịp độ tự nhiên của chúng. Thứ hai, ngày học tại trường tiểu học ở Phần Lan tương đối ngắn hơn hầu hết các nước khác. Thời khóa biểu hằng ngày của trường phải bao gồm thời gian giải lao thường xuyên giữa các tiết, và tất cả các trường phải có ít nhất một tiếng mỗi ngày cho các hoạt động thể chất và chơi đùa cho mọi trẻ em. Điều này cho trẻ em thêm nhiều thời gian để chơi trong ngày. Cuối cùng, trẻ em tại Phần Lan có ít bài tập về nhà hơn so với bạn bè đồng lứa học tiểu học và trung học cơ sở ở những nơi khác. Thời gian ngoài lúc đến trường thường được xem là thời gian tự do cho trẻ chơi đùa, thực hiện sở thích, hay dành thời gian cho gia chơi đùa tự do, không có hướng dẫn cho trẻ nhỏ và học tập thông qua việc chơi ở trường tiểu học và trung học được lồng ghép chặt chẽ vào công việc hằng ngày ở các trường tại Phần Lan. Chơi đùa được xem là quyền con người cơ bản của mọi đứa trẻ, và quyền đó được nêu rõ trong các quy định của quốc gia hướng dẫn hoạt động của nhà trường. Các nhà chức trách quốc gia yêu cầu việc học tập thông qua vui chơi đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy an sinh của trẻ, tương tác với người khác, và học các kỹ năng thiết yếu ở mẫu giáo và năm tiền tiểu học. Hội liên hiệp Cha mẹ Phần Lan, tổ chức xây dựng mối hợp tác quốc gia giữa gia đình và nhà trường cùng trường mầm non, tư vấn cho các bậc phụ huynh về vai trò quan trọng của việc vui chơi trong cuộc sống của trình Giảng dạy Cốt lõi Quốc gia dành cho Chương trình Chăm sóc và Giáo dục Mầm non năm 2019 xoáy trọng tâm vào việc vui chơi, chỉ ra rằng “hiểu được tầm quan trọng và các khả năng sư phạm của việc chơi đối với trẻ trong quá trình thúc đẩy an sinh và học tập là điều thiết yếu đối với chăm sóc và giáo dục mầm non” Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần Lan, 2018. Học tập thông qua chơi đùa là một phương pháp sư phạm phổ biến trong những năm đầu của giáo dục tiểu học và thường được đưa vào trong giảng dạy ở các trường trung học. Rõ ràng là trẻ em tại Phần Lan vui chơi nhiều hơn ở trong và ngoài nhà trường so với trẻ em ở các nước khác. Tóm lại, rất nhiều người Phần Lan chắc chắn rằng trẻ em chơi càng nhiều thì càng học được lượng tốt hơn nhờ công bằng mạnh hơnNguyên tắc mang tính chính sách chủ đạo của cuộc cải cách nhà trường phổ thông ở Phần Lan thập niên 1970 là tạo cơ hội giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người. Nguyên tắc này cũng bao gồm quan điểm cho rằng thành tích học sinh nên được phân bổ đồng đều giữa các nhóm xã hội và khu vực địa là Phần Lan trong một thời gian dài từng là một đất nước đồng chủng. Tuy nhiên, kể từ khi Phần Lan gia nhập EU năm 1995 đến nay, đa dạng hóa văn hóa và chủng tộc ở Phần Lan diễn ra nhanh hơn bất cứ nước nào khác trong EU, nhất là tại các quận và trong các trường ở những thành phố lớn, nơi tỉ lệ dân số nhập cư thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai chiếm một phần tư tổng số dân. Năm 2000, ước tính khoảng 2,5% cư dân tại Phần Lan là công dân gốc nước ngoài, và đa phần trong số họ không nói bất kỳ ngôn ngữ trong nước nào tiếng Phần Lan, Thụy Điển, hay Sami ở nhà. Vào đầu năm 2020, con số đó đã vượt quá 8%.Các trường học ở Phần Lan đã phải thích ứng với tình hình thay đổi này trong khoảng thời gian rất ngắn. Vào năm 2000, có khoảng cư dân nói tiếng nước ngoài tại Phần Lan. Con số đó đã tăng lên gấp bốn lần vào năm 2020, theo Thống kê Phần Lan. Do đó, một số đô thị đã đặt ra giới hạn cho tỉ lệ học sinh nhập cư theo học ở mỗi trường để tránh sự phân biệt. Tỉ lệ trẻ em nhập cư trong các trường tiểu học và trung học cơ sở ở Helsinki là hơn 22%, và số lượng ngôn ngữ nói ở những ngôi trường này vượt quá 40. Xu hướng này thể hiện rõ ở tất cả các thành phố lớn tại Phần thống giáo dục Phần Lan đi theo các nguyên tắc về hòa nhập và quyền được giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ của trẻ em trong thời gian đầu đến trường trên phương diện đối xử với học sinh có các đặc điểm và nhu cầu khác biệt. Học sinh được xếp vào các trường như thường lệ, trừ khi có một lý do cụ thể để vào một trường khác. Do đó, trong một lớp học Phần Lan bình thường, người ta sẽ thấy thầy cô giáo dạy cho các học sinh có sự khác nhau về năng lực, mối quan tâm và nguồn gốc chủng tộc, thường có sự giúp đỡ của giáo viên trợ giảng. Đa dạng văn hóa trong xã hội Phần Lan gợi ý rằng sự khác biệt trong việc học của học sinh giữa các trường có thể trở nên lớn hơn. Dữ liệu gần đây nhất cho thấy sự chênh lệch về kết quả thực tế giữa các trường đang ngày càng lớn Rautopuro & Juuti, 2018. Tuy nhiên, theo các so sánh quốc tế, công bằng về kết quả giáo dục vẫn vững mạnh.Lược trích từ “Bài học Phần Lan do Đặng Việt Vinh và Phương Anh dịch, Phạm Văn Lam hiệu đính[1] Nguyên văn “minimally invasive education” MIE, một loại hình học tập trong đó trẻ em được học trong một môi trường ít chịu sự giám sát nhất, bắt nguồn từ một thử nghiệm của Sugata Mitra khi còn ở Công ty Đào tạo và Giáo dục Toàn cầu NIIT, Ấn Độ vào năm 1999.

giáo dục phần lan